Thay đổi trong nội tại doanh nghiệp: Mỗi công ty, tổ chức đều có nguy cơ xảy ra những biến động theo chu | Giải pháp nhân lực

* Website đang xây dựng, CHƯA CHÍNH THỨC sử dụng. Tin tức, bài viết, sản phẩm chỉ đăng làm mẫu!
* CẦN MUA TÊN MIỀN "TIMVIECTHEOGIO.COM", vui lòng liên hệ 0908 744 256 - 0917 212 969 (Mr. Thanh)

* Giải pháp nhân lực: 0981.293.005 - 0969.786.635

Ba là, đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đối với dạy nghề theo nhu cầu của thị trường và yêu cầu cụ thể của người sử dụng lao động, gồm:

Hai là, tạo mối liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp. Để có lực lượng lao động lành nghề, ngay từ khi còn trên ghế nhà trường, sinh viên được vừa học, vừa làm trong môi trường thực tế. Tuy nhiên, hiện rất ít công ty có chiến lược nuôi dưỡng nguồn nhân lực ngay từ năm thứ 2, thứ 3 và có kế hoạch cho sinh viên vào làm linh hoạt. Ngược lại, các trường cũng chỉ tập trung vào công tác đào tạo chứ chưa quan tâm nhiều đến việc hợp tác với doanh nghiệp.

Giữa các doanh nghiệp với các trường đại học cũng như các cơ sở đào tạo thiếu cơ chế phối hợp chặt chẽ, doanh nghiệp phải là nơi đặt hàng cho các trường đại học về nhu cầu nhân lực, tuy nhiên, vấn đề này ở Việt Nam chưa được thực hiện tốt, dẫn đến trường hợp nhân lực vừa thừa nhưng lại vừa thiếu. Do đó, cần tập trung gắn kết hoạt động đào tạo của nhà trường với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp thông qua các mô hình liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp, hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo tại các trường gắn rất chặt với doanh nghiệp. Ngoài ra, có thể đẩy mạnh việc hình thành các cơ sở đào tạo trong doanh nghiệp để chia sẻ các nguồn lực chung, từ đó hai bên cùng chủ động nắm bắt và đón đầu các nhu cầu của thị trường lao động.

- Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chuẩn về kỹ năng tối thiểu cần có của các loại nghề nghiệp theo yêu cầu của người sử dụng lao động; trên cơ sở đó, khuyến khích và tạo điều kiện để các hội, hiệp hội nghề nghiệp tự xây dựng bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp áp dụng cho các thành viên theo hướng áp dụng bộ chuẩn nghề nghiệp ở mức trung bình trong khu vực; hướng dẫn các trường, trung tâm và tổ chức dạy nghề xây dựng các chương trình và thức đào tạo đáp ứng các yêu cầu nói trên.

- Thực hiện đấu thầu hoặc chỉ định thầu cung cấp dịch vụ đào tạo lao động trong các chương trình hỗ trợ đào tạo nghề theo yêu cầu của doanh nghiệp, người sử dụng lao động; khuyến khích, tạo thuận lợi để doanh nghiệp và các tổ chức đào tạo thực hiện hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau trong đào tạo, nâng cao kỹ năng cho lao động của doanh nghiệp.



- Thực hiện hỗ trợ kinh phí đào tạo cho các trường, tổ chức đào tạo nghề theo kết quả đầu ra, như số học viên được đào tạo theo nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp, số học viên tốt nghiệp đạt chuẩn nghề theo mức trung bình của khu vực, số học viên tốt nghiệp có được việc làm trong 6 tháng kể từ khi tốt nghiệp,…

- Khuyến khích doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp quy mô lớn, tự đào tạo lao động phục vụ nhu cầu của bản thân, của các doanh nghiệp bạn hàng, đối tác và các doanh nghiệp có liên quan khác.

Bốn là, xây dựng lại chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp dạy và học, nâng cao các kỹ năng mềm cho sinh viên. Đánh giá một cách khách quan cho thấy, hệ thống đào tạo của nước ta còn tồn tại nhiều bất cập, cơ sở vật chất chưa đáp ứng với yêu cầu đào tạo, phương thức đào tạo vẫn theo kiểu cũ, thiếu tính tương tác, sự gắn kết với thực tiễn, học không đi đôi với hành, dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo chưa đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của xã hội đặc biệt trong xu thế phát triển của CMCN 4.0. Do đó, cần sớm đổi mới chương trình, nội dung đào tạo đại học theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực và phù hợp. Cải cách hệ thống giáo dục, đào tạo, ưu tiên cho các ngành khoa học kỹ thuật, đào tạo hướng nghiệp gắn với việc làm và theo nhu cầu của xã hội. Việc đào tạo cũng cần tiếp cận theo hướng đa ngành thay vì chuyên ngành như trước đây, đồng thời tăng cường sự phản biện của người học. Quản trị đại học cũng cần có sự thay đổi, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giảng dậy, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý.

Đặc biệt, trong thời kỳ kỹ thuật số như hiện nay, các trường đại học cũng cần nghiên cứu, bổ sung thêm các chuyên ngành đào tạo các nghề về ICT, blockchain, trí tuệ nhân tạo (AI) để đáp ứng về nhu cầu nhân lực trong CMCN4.0. Ngoài ra, một thực tế nữa cho thấy, lao động của Việt Nam vẫn hạn chế trong việc sở hữu các kỹ năng mềm, trình độ ngoại ngữ, khả năng làm việc nhóm, kỹ năng công nghệ thông tin và khả năng sáng tạo. Nhiều lao động dù đã qua đào tạo, nhưng khi làm việc vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu khiến người sử dụng lao động mất thời gian đào tạo lại. Do đó, một giải pháp đưa ra đó là cần trang bị các kỹ năng mềm cho sinh viên ngay từ trong nhà trường, bằng cách đưa kỹ năng mềm vào trong chương trình đào tạo và đầu ra cho sinh viên. Không những thế cần khuyến khích và đẩy mạnh việc tự học của sinh viên, tăng cường việc dạy thực tiễn từ các chuyên gia, doanh nhân… không chỉ 100% kiến thức là giáo viên giảng dạy.

Yêu cầu số hóa từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

CMCN 4.0 là sự hội tụ của một loạt các công nghệ mới xuất hiện dựa trên nền tảng kết nối và công nghệ số, được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực. Các công nghệ, lĩnh vực mới có thể kể đến như: Internet kết nối vạn vật (IoT); Cơ sở dữ liệu tập trung (Big data); Trí tuệ nhân tạo (AI); Năng lượng tái tạo/ Công nghệ sạch (Renewable energy/ Clean tech); Người máy (Robotics); Công nghệ in 3D (3D printing); Vật liệu mới (graphene, skyrmions, bio-plastic,...); Blockchain; Kết nối thực ảo (Virtual/Augmented Reality); Thành phố thông minh (Smart cities); Công nghệ màng mỏng (Fintech); Các nền kinh tế chia sẻ (Shared economics)... Khác với các cuộc cách mạng trước đó, CMCN 4.0 có sự khác biệt rất lớn về tốc độ, phạm vi và sự tác động. Cuộc cách mạng này có tốc độ phát triển và lan truyền nhanh hơn rất nhiều so với trước đó. Phạm vi của CMCN 4.0 diễn ra rộng lớn, bao trùm, trong tất cả các lĩnh vực, từ sản xuất chế tạo đến dịch vụ, và dịch vụ công.



CMCN 4.0 dự báo sẽ làm thay đổi toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị trên toàn thế giới, tác động mạnh mẽ tới mọi mặt đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội, nhà nước, chính phủ, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân,... tạo ra nền kinh tế số. Do đó, để duy trì lợi thế cạnh tranh và có thể bắt kịp được các nước tiên tiến, các quốc gia, trong đó có Việt Nam đều đang tập trung phát triển kinh tế số và ứng dụng các thành tựu công nghệ của CMCN 4.0. Điều này tạo cơ hội công ăn việc làm mới, tăng năng suất cho người lao động... Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra thách thức về chất lượng lao động và khả năng người lao động bị thay thế bởi robot, máy móc...
2. Thách thức đối với nguồn nhân lực Việt Nam

Bên cạnh những tác động to lớn mà kinh tế số đem lại thì cũng có nhiều thách thức được đặt ra đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, đặc biệt sẽ làm thay đổi mạnh mẽ cơ cấu lao động và thị trường lao động. Hệ thống tự động hóa sẽ thay thế dần lao động thủ công trong toàn bộ nền kinh tế. Đồng thời, sự chuyển dịch từ nhân công sang máy móc sẽ gia tăng sự chênh lệch giữa lợi nhuận trên vốn và lợi nhuận với sức lao động, điều này sẽ tác động đến thu nhập của lao động giản đơn và gia tăng thất nghiệp. Theo ước tính của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) có đến 86% lao động cho các ngành Dệt may và Giày dép của Việt Nam có nguy cơ cao mất việc làm dưới tác động của những đột phá về công nghệ do cuộc CMCN 4.0. Nguy cơ này có thể chuyển thành con số thiệt hại không hề nhỏ khi các ngành như Dệt may, Giày dép đã tạo ra số lượng lớn việc làm cho lao động trong nước.

Số lượng công việc cần lao động chất lượng cao ngày càng gia tăng, trong khi thứ hạng chỉ số lao động có chất lượng của Việt Nam còn đứng ở vị trí thấp. Ví dụ điển hình là ngành Công nghệ thông tin. Ước tính mỗi năm, nhu cầu tuyển dụng vẫn tăng đều đặn gần 50%, trong khi thực tế với 500.000 ứng viên công nghệ thông tin ra trường chỉ có 8% đáp ứng được nhu cầu này. Thực tế này cho thấy, chất lượng nguồn lao động đặc biệt là ngành Kỹ thuật hiện đang trở thành đòi hỏi bức thiết. Theo các bản báo cáo của Vietnamworks, có gần 15.000 nhân sự trong ngành Công nghệ thông tin Việt Nam được tuyển dụng trong năm 2016; đến cuối năm 2018, ngành này thiếu hụt khoảng 70.000 người và đến năm 2020 sẽ là 500.000 người.

Tìm hiểu về tình trạng nguồn nhân lực
Muốn có những thay đổi, cải cách, bước tiến mới trong việc quản lý nguồn nhân lực hiện nay, trước hết bạn cần có cái nhìn khái quát về hiện trạng nguồn nhân chung, để từ  đó doanh nghiệp của bạn mới đi sâu phân tích điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức của doanh nghiệp. Việc phân tích và đánh giá đúng thực lực nguồn nhân lực sẵn có và nguồn nhân lực tiềm ẩn giúp cho doanh nghiệp dễ dàng sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc.
 
Phát triển nguồn nhân lực sẵn có

Dù trong thời đại nào đi chăng nữa , việc tận dụng tối đa nguồn lực sẵn có luôn đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của công ty. Để phát triển được nguồn nhân lực chất lượng cao, điều đầu tiên bạn cần làm chính là sàng lọc, đào tạo nguồn nhân lực sẵn có, đưa ra những chính sách để bồi dưỡng nhân viên trở nên chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu công việc đề ra.

Tuyển dụng nhân tài



Để sở hữu được nguồn nhân lực chất lượng cao, doanh nghiệp không những tận dụng mọi tiềm năng sẵn có mà còn cần đưa ra những chính sách thu hút và tìm kiếm nhân tài. Để làm được điều đó, doanh nghiệp cần xây dựng được một chính sách đãi ngộ tốt với mức lương và phúc lợi ổn định, xây dựng một môi trường làm việc chuyên nghiệp, năng động, văn hoá doanh nghiệp lành mạnh, ấn tượng. Đồng thời, để có thể tiếp cận với nguồn nhân tài, các doanh nghiệp có thể lựa chọn phối hợp với các trường đại học, trung tâm đào tạo để thực hiện các ngày hội tuyển dụng. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần có sự sàng lọc và tuyển chọn nghiêm túc, kĩ lưỡng để có thể tìm ra được những nhân tài thực sự phù hợp cho công việc

Việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao chưa bao giờ là đơn giản đối với bất kì một doanh nghiệp nào. Đặc biệt trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra vô cùng quyết liệt này, các doanh nghiệp cần hết sức chú trọng vấn đề nguồn nhân lực, tạo tiền đề phát triển doanh nghiệp lên một tầm cao mới, có vị trí vững chắc trong xã hội.

Lợi thế thứ ba, chất lượng lao động từng bước được nâng lên; Lao động qua đào tạo đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp (DN) và thị trường. Lực lượng lao động kỹ thuật của Việt Nam cơ bản đã làm chủ được khoa học - công nghệ, đảm nhận được hầu hết các vị trí công việc phức tạp trong sản xuất kinh doanh mà trước đây phải thuê chuyên gia nước ngoài…

Thách thức đặt ra

Bên cạnh những lợi thế trên, nguồn nhân lực ở Việt Nam đang phải đối diện với những thách thức sau:

Thách thức lớn nhất là tính cạnh tranh trong thị trường nhân lực ngày càng rất cao, trong khi mức độ sẵn sàng của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN) Việt Nam còn chậm. Cạnh tranh giữa nước ta với các nước trên thế giới trong việc cung cấp nguồn lao động chất lượng cao ngày càng tăng đòi hỏi chất lượng GDNN phải được cải thiện đáng kể theo hướng tiếp cận được các chuẩn của khu vực và thế giới, tăng cường khả năng công nhận văn bằng chứng chỉ giữa Việt Nam và các nước khác.

Thách thức thứ hai là Việt Nam sẽ phải đối mặt với vấn đề già hóa dân số; cùng với đó là nền kinh tế sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề từ hiện tượng biến đổi khí hậu khiến một số ngành suy giảm lợi thế cạnh tranh.

Thách thức thứ ba, chất lượng NNL ở Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo còn thấp, thiếu hụt lao động có tay nghề cao, chất lượng lao động vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường và hội nhập; Khoảng cách giữa GDNN và nhu cầu của thị trường lao động ngày càng lớn. Hơn nữa, sự chuyển dịch mô hình, cơ cấu kinh tế khiến cho cung và cầu trong lao động thay đổi, trong khi các ngành nghề đào tạo trong nhà trường chưa bắt kịp được xu thế sử dụng lao động của DN. Khảo sát cho thấy, khả năng hòa nhập của học sinh, sinh viên Việt Nam sau tốt nghiệp trong môi trường lao động mới còn yếu; Khả năng thích ứng với thay đổi, kỹ năng thực hành và ý thức, tác phong làm việc cũng là những thách thức không nhỏ đối với lao động Việt Nam.

 


Giải pháp nhân lực

Muốn có những thay đổi, cải cách, bước tiến mới trong việc quản lý nguồn nhân lực hiện nay, trước hết bạn cần có cái nhìn khái quát về hiện trạng nguồn nhân lực chung, để từ đó doanh nghiệp của bạn mới đi sâu phân tích điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức của doanh nghiệp. Việc phân tích và đánh giá đúng thực lực nguồn nhân lực sẵn có và nguồn nhân lực tiềm ẩn giúp cho doanh nghiệp dễ dàng sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc. Dù trong thời đại nào đi chăng nữa , việc tận dụng tối đa nguồn lực sẵn có luôn đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của công ty.
Thiết kế website VIETSEO sở hữu đội ngũ chuyên viên thiết kế website dày dặn, Một thư mục là một phân loại hữu ích của các liên kết đến các trang web hoặc tài nguyên xung quanh một chủ đề nhất định. Ví dụ: một blog nước hoa có


Quy trình tuyển chọn lao động của chúng tôi ở Tây Ninh

Cung ứng lao động phổ thông luôn coi trọng lực lượng lao động có ưu thế về sức khỏe, có tinh thần trách nhiệm, độ tuổi,… và quan trọng nhất là thực sự phù hợp với vị trí cần tuyển dụng theo nhu cầu của khách hàng. Theo đó, quy trình tuyển chọn nguồn lao động phải thực hiện qua nhiều bước nghiêm ngặt. Cụ thể:

    Tiến hành khảo sát về nơi cư trú, kinh nghiệm làm việc, sở thích, sở trường, nguyện vọng,… của các ứng viên dự tuyển
    Tiến hành sàng lọc hồ sơ, đưa ra kết quả những hồ sơ ứng viên đạt yêu cầu
    Gặp gỡ và phỏng vấn trực tiếp người lao động, tìm hiểu điểm mạnh, điểm yếu của người lao động.
    Ký hợp đồng với những ứng viên đạt yêu cầu
    Mời chuyên gia, nhà tuyển dụng đào tạo người lao động những kiến thức, kỹ năng cơ bản và chuyên sâu
    Đưa người lao động tới doanh nghiệp và ký kết hợp đồng với doanh nghiệp
    Phối hợp với nhà tuyển dụng cùng quản lý người lao động

Ngoài dịch vụ cung ứng lao động, chúng tôi có thể hỗ trợ doanh nghiệp các dịch vụ khác không?

Dịch vụ của chúng tôi rất phong phú, đa dạng và luôn sẵn sàng phục vụ khách hàng mọi lúc, mọi nơi. Doanh nghiệp hoàn toàn yên tâm khi lựa chọn dịch vụ ở công ty chúng tôi. Hiện tại, chúng tôi cơ hệ thống trang thiết bị, vật chất, cơ sở hạ tầng đàm bảo, có xe 40 chỗ ngồi có thể đưa đón nhân sự đến công ty bạn một cách nhanh nhất có thể. Thậm chí, chúng tôi có thể lo ăn uống, chỗ ở và các nhu cầu khác cho lao động của chúng tôi đang làm việc tại công ty, nếu quý khách hàng có nhu cầu.
Quyền lợi của khách hàng khi sử dụng dịch vụ cung ứng lao động tại Tây Ninh

Cung ứng lao động phổ thông chuyên cung ứng lao động, cho thuê lao động thời vụ, lao động phổ thông, lao động có chuyên môn, tạp vụ, bốc vác, vụ vệ sinh công nghiệp,… Chúng tôi luôn đặt lợi ích của khách hàng lên trên hết:

    Được đáp ứng nhanh chóng và đầy đủ về số lượng và chất lượng nguồn lao động theo đúng yêu cầu từ phía công ty

Tiết kiệm nhiều khoản chi phí trong tuyển dụng và đào tạo nhân sự



    Được đảm bảo mọi thủ tục pháp lý đối với người lao động
    Được chúng tôi hỗ trợ các dịch vụ khác như suất ăn, chỗ ở, xe đưa rước người lao động,…
    Được đổi trả nhân sự nếu người lao động chúng tôi cung cấp không đáp ứng nhu cầu. Do đó, luôn đảm bảo nguồn lao động ổn định, chất lượng
    Được chúng tôi phối hợp, hỗ trợ trong viêc quản trị nhân sự, nhân lực

Cam kết Cung ứng lao động phổ thông về chất lượng dịch vụ như thế nào?

Cung ứng lao động phổ thông đảm bảo sẽ cung cấp cho khách hàng chất lượng phục vụ nhanh nhất, tốt nhất, uy tín và hiệu quả nhất. Khi sử dụng dịch vụ của chúng tôi, quý doanh nghiệp không chỉ tuyển được nguồn nhân công chuẩn, giá rẻ mà hoàn toàn yên tâm về những vấn đề phát sinh trong quá trình sử dụng dịch vụ. Vậy nên, nếu là doanh nghiệp thông minh, hãy đến với Cung ứng lao động phổ thông ở Tây Ninh để cảm nhận, trải nghiệm.

Tây Ninh đang có nhu cầu rất lớn đối với cung ứng lao động có tay nghề

Qua quá trình hợp tác với 14 khu và cụm công nghiệp ở Tây Ninh cũng như thực trạng lao động và việc làm của tỉnh, Cung ứng lao động phổ thông nhận thấy rất rõ sự thiếu hụt rất lớn nguồn lao động có chuyên môn nơi đây.

Lao động có trình độ chuyên môn là những người lao động đã qua các lớp đào tạo chuyên môn ngành nghề nhất định. Họ có kiến thức và kỹ năng để làm các công việc phức tạp, có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi của công nghệ và vận dụng sáng tạo những kiến thức, những kỹ năng đã được đào tạo trong quá trình lao động sản xuất.

Tây Ninh hiện có hơn 1,1 triệu dân nhưng chỉ có 3 đơn vị đào tạo lao động có chuyên môn là Cao đẳng sư phạm Tây Ninh, Cao đẳng nghề Tây Ninh và Trung cấp nghề khu vực Nam Tây Ninh. Bên cạnh đó, học sinh Tây Ninh có xu hướng tìm về các thành phố lớn, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh để học tập. Có điều, sau khi tốt nghiệp thành người lao động có chuyên môn, họ lại không có nguyện vọng quay về Tây Ninh lập nghiệp với nhiều lý do khác nhau. Có thể là do mức thu nhập, môi trường làm việc, phúc lợi xã hội,…

Thực trạng này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng phát triển của doanh nghiệp. Dù muốn hay không, chúng tôi vẫn phải khẳng định là Tây Ninh đang thiếu hụt lớn về nguồn lao động có chuyên môn. Nếu muốn phát triển bền vững, doanh nghiệp nói riêng và cả hệ thống chính trị ở Tây Ninh nói chung cần có những giải pháp mạnh mẽ để thu hút, giữ chân nhân tài, bổ sung nhân lực, tạo đà cho sự phát triển.
Cung ứng lao động phổ thông đang là dịch vụ HOT của chúng tôi ở Tây Ninh

Lao động phổ thông chỉ những người lao động không qua đào tạo, chưa kinh nghiệm lao động gì đặc biệt. Lao động phổ thông thường bao gồm những người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông trở xuống. Độ tuổi của họ có thể dao động từ 16 – 50 tuổi. Họ được các doanh nghiệp tuyển dụng để làm những công việc thiên về cơ bắp, tay chân tại các cơ sở sản xuất.

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tây Ninh cần một lượng lớn nguồn lao động phổ thông đáp ứng ngồn nhân lực cho phát triển công nghiệp. Nhưng thực tế, vì nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhiều doanh nghiệp vẫn rơi vào tình trạng thiếu hụt nguồn lao động này. Đặc biệt là lao động phổ thông ở Tây Ninh có xu hướng di cư đến các tỉnh thành lân cận để tìm nguồn thu nhập cao hơn hoặc môi trường làm việc hiện đại hơn,…

Nhu cầu cung ứng lao động thời vụ ở Tây Ninh hiện nay như thế nào?



Lao động thời vụ là hình thức người lao động làm việc trong một khoảng thời gian nhất định tại doanh nghiệp và được đảm bảo thông qua hợp đồng. Đó là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương theo mùa vụ hoặc công việc nhất định có tính chất không thường xuyên, có thời hạn dưới 12 tháng, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

Ở Tây Ninh, nền công nghiệp đang trên đà phát triển, nhu cầu lao động thời vụ rất nhiều, đặc biệt vào các giai đoạn cao điểm như lễ, Tết hoặc giao mùa. Trong những trường hợp người lao động nghỉ phép dài hạn, nghỉ thai sản hay xảy ra sự cố lao động,… thì doanh nghiệp sử dụng lao động thời vụ thay thế là hợp lý nhất.

Lĩnh vực có nhu cầu lao động thời vụ cũng khá đa dạng, nhiều nhất có thể kể đến chế biến nông sản, chế biến gỗ, sản xuất đồ gia dụng, …

Công việc chủ yếu của nhân viên thời vụ là gia công, đóng gói sản phẩm, giao hàng, dịch vụ vệ sinh công nghiệp,…

Trình độ của lao động phổ thông chưa cao, chủ yếu là lao động nông nghiệp nông thôn, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Tại Việt Nam luôn thiếu nghiệm trọng lao động trình độ cao, lao động được đào tạo, lao động có kỹ năng…

-       lao động phổ thông di cư từ nông thôn đến thành thị, các khu công nghiệp chỉ đăng ký tạm trú, không có hộ khẩu, gặp khó khăn về nhà ở, học tập, chữa bệnh.. do đó không có khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của các vùng, các khu công nghiệp, khu chế xuất.

Những Vấn Đề Mà Doanh Nghiệp Thường Gặp Với Người Lao Động Phổ Thông

Do lao động phổ thông di cư từ nông thôn nên có tư duy mùa vụ, không làm việc ổn định; điều này khiến các doanh nghiệp luôn đau đầu trong việc đảm bảo số lượng lao động duy trì sản xuất, nhất là sau những dịp lễ tết hoặc vào mùa vụ nông nghiệp.

Đa số lao động phổ thông trình độ chưa cao nên việc tuân thủ các nội qui của doanh nghiệp còn hạn chế, đôi khi mang suy nghĩ của địa phương vào cách ứng xử trong công việc.

Việc quản lý người lao động của các nhà máy xí nghiệp thường gặp khó khăn, do họ không làm việc ổn định, và dễ bị tác động bởi những người xung quanh.

Người lao động không muốn tham gia Bảo hiểm xã hội vì chỉ mong muốn nhận được tiền ngay, điều này cũng làm cho doanh nghiệp có nguy cơ bị xử lý vì vi phạm qui định, nhưng nếu không chấp nhận theo ý người lao động (trả tiền bảo hiểm vào lương) thì dễ bị mất lao động.
 
Những Vấn Đề Tồn Tại Của Doanh Nghiệp

Nhiều doanh nghiệp mong muốn lợi thế cạnh tranh về thu nhập của lao động phổ thông nên chủ động chuyển 21,5% số tiền doanh nghiệp phải đóng BHXH vào lương.

Chưa phải tất cả nhân viên nhân sự của các doanh nghiệp nắm rõ về nghiệp vụ, hay các qui định của pháp luật, hoặc chưa cập nhật các qui định mới, do đó rất dễ dẫn đến các sai sót trong việc thực hiện quy định pháp luật thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động.

Chi phí quản tuyển dụng cao, việc tuyển dụng chậm khó khăn, khó giữ chân người lao động.

-        Cho thuê lại lao động, cung cấp lượng lao động nhanh chóng kịp thời theo nhu cầu sản xuất thực tế của doanh nghiệp.

-       Hợp thức hóa lao động, giúp cho doanh nghiệp giảm áp lực quản lý người lao động.

-       Dịch vụ tính lương, khai báo bảo hiểm xã hội, tính thuế thu nhập cá nhân, đảm bảo tuân thủ đúng các qui định của pháp luật nhằm giảm thiểu rủi ro hậu kiểm giúp doanh nghiệp yên tâm phát triển.

-       Dịch vụ cung cấp lực lượng hỗ trợ bán hàng, khảo sát thị trường, giới thiệu sản phẩm, cung cấp PGs, Salesforce ...



Việc sử dụng dịch vụ của Cung ứng lao động phổ thông  giúp cho doanh nghiệp được lợi thế cạnh tranh để chuyển chi phí nhân công vốn được xem là định phí, thành biến phí có hóa đơn.

Cung ứng lao động phổ thông  với hơn 10 năm kinh nghiệp cùng đội ngũ nhân sự am hiểu pháp luật và gần 20.000 lao động phổ thông đã là đối tác đắc lực giúp cho hơn 500 doanh nghiệp trong cả nước yên tâm phát triển.

Cung ứng lao động phổ thông  ngoài sự ghi nhận của của khách hàng còn nhận được nhiều giải thường và tuyên dương của các cơ quan ban ngành như:

-       Chứng nhận Top 10 Thương hiệu uy tín, sản phẩm chất lượng, dịch vụ tin dùng 2014,

-       Giấy khen của Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2015,

-       Giấy khen của Tổng Cục thuế năm 2016,

-       Giấy khen của UBND tỉnh Bình Dương năm 2017,

-       Bằng khen của Bộ Tài chính năm 2017.

Cung ứng lao động phổ thông  đã và đang là lựa chọn đáng tin cậy cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực lao động việc làm… Và là giải pháp tối ưu để các doanh nghiệp giải quyết những nút thắt khó khăn với tình trạng lao động hiện tại.

Thực tế đã cho thấy TP Hồ Chí Minh luôn được coi là “đầu tàu” kinh tế của nước ta. Cơ cấu kinh tế TP Hồ Chí Minh đang theo xu hướng công nghệ cao; đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng. Phát triển nguồn nhân lực chính là một trong những vấn đề quan trọng của thành phố. Câu chuyện thiếu – thừa lao động tại TP Hồ Chí Minh được nhắc đi nhắc lại nhiều lần; là bài toán khó giải đáp. Sự ra đời của dịch vụ cung ứng lao động tại thành phố Hồ Chí Minh đã giúp cho thành phố giải quyết được nhu cầu nhân lực đang khan hiếm hiện nay. Xem thêm: cung ứng thợ có tay nghề tpHCM

Một nghịch lý đang xảy ra tại thành phố Hồ Chí Minh nhiều năm nay về tình trạng thiếu – thừa lao động.

Tại TP Hồ Chí Minh đang thừa lao động phổ thông, nhưng lại thiếu nhân lực có trình độ cao. Nguồn nhân lực của thành phố Hồ Chí Minh đang hướng đến các ngành kỹ thuật cao nhưng lực lượng lao động còn rất hạn chế; chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về số lượng lẫn chất lượng của nhà tuyển dụng. Do đó, nghịch lý về lao động vẫn tiếp tục diện ra trong nhiều năm qua. Thành phố có nguồn lực dồi dào, nhu cầu việc làm lớn nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn thiếu lao động. Sự ra đời của dịch vụ cung ứng lao động tại thành phố Hồ Chí Minh đã giúp cho nhiều công ty giải quyết thực trạng này.
Cung ứng lao động tại thành phố Hồ Chí Minh

Cung ứng lao động là giải pháp được nhiều công ty, doanh nghiệp tìm đến với mong muốn có được nguồn lực dồi dào, chất lượng. Lao động tại TP Hồ Chí Minh bao gồm lao động phổ thông và lao động chất lượng cao. Dịch vụ cung ứng lao động tại thành phố Hồ Chí Minh do

Hình Ảnh