Tiến hành đánh giá năng lực của từng nhân viên theo định kỳ ngoài trình độ chuyên môn còn phải trao dồi thêm về | Giải pháp nhân lực

* Website đang xây dựng, CHƯA CHÍNH THỨC sử dụng. Tin tức, bài viết, sản phẩm chỉ đăng làm mẫu!
* CẦN MUA TÊN MIỀN "TIMVIECTHEOGIO.COM", vui lòng liên hệ 0908 744 256 - 0917 212 969 (Mr. Thanh)

* Giải pháp nhân lực: 0981.293.005 - 0969.786.635

Phân tích hiện trạng nguồn nhân lực

Mục đích của việc phân tích hiện trạng nguồn nhân lực để xác định được điểm mạnh, điểm yếu, những khó khăn, thuận lợi của doanh nghiệp.

Nhà quản trị có thể dựa trên các cơ sở sau: Số lượng; Cơ cấu; Trình độ chuyên môn; Kinh nghiệm làm việc..

Việc phân tích đúng thự trạng nguồn nhân lực sẽ tạo ra sự sắp xếp, bố trí phù hợp với công việc, đồng thời có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ nguồn nhân lực sẵn có để có thể đáp ứng yêu cầu ngày nâng cao.

Chiến lược phát triển nguồn nhân lực

a) Ổn định và duy trì nguồn nhân lực hiện có

Để ổn đinh và duy trì nguồn nhân lực hiện có, nhà quản trị cần chú ý những chi tiết sau:

Hoàn thiện các quy chế, chính sách hiện đang áp dụng tại doanh nghiệp.

Đảm bảo công bằng và hợp lý trong chi trả lương cho người lao động, tạo tính cạnh tranh trong việc thu hút nguồn lực bên ngoài và giữ chân nguồn lực bên trong

Cải thiện môi trường làm việc.

Tiến hành đánh giá năng lực của từng nhân viên theo định kỳ ngoài trình độ chuyên môn còn phải trao dồi thêm về trình độ ngoại ngữ, nhằm xem xét khả năng của từng người để lên kế hoạch đào tạo hoặc tái đào tạo với mục đích nâng cao hơn nữa hiệu quả công việc của nhân viên.

Sắp xếp và ổn định lại nhân sự, đảm bảo bố trí nhân sự đúng người, đúng việc.

Cải tiến phương thức làm việc, giảm thiểu các công đoạn không làm giá trị tăng thêm, đảm bảo tính chuyên nghiệp cao trong môi trường làm việc.

b) Phát triển nguồn nhân lực

Mục tiêu thành công của doanh nghiệp chỉ được hoàn thiện khi nguồn nhân lực của tổ chức không ngừng được phát triển.

Thực hiện các chính sách đãi ngộ, phúc lợi, khen hợp lý để tạo điều kiện gắn bó lâu dài của nhân viên với công ty.

Tạo ra môi trường làm việc năng động, thân thiện.

Hoàn thiện các chính sách đề bạt - thăng tiến cho nhân viên xuất sắc.



Không ngừng nâng cao cơ cấu tổ chức, tạo tính năng động trong sự phát triển hướng tới sự hứng khởi trong công việc cho nhân viên. Tạo tính cạnh tranh lành mạnh trong từng vị trí công việc để mọi nhân viên có thể phát huy tối đa năng lực của bản thân.

Tổ chức các chuyến tham quan du lịch, các phong trào thể dục thể thao theo định kỳ tạo điều kiện cho tất cả nhân viên có cơ hội giao lưu học hỏi, cũng như vui chơi giả trí để tái tạo lại sức lao động.

c) Chính sách thu hút nguồn nhân lực

Các chính sách nhân sự hợp lý, năng động để có thể thu hút được nhiều nhân tài từ các nơi khác về phục vụ cho công ty.

Có các gói chính sách đãi ngộ phúc lợi, tiền lương hấp dẫn nhằm thu hút các nguồn nhân lực từ bên ngoài về làm việc.

Phối hợp tuyển dụng ở các trường đại học, trung tâm đào tạo để tìm kiếm các ứng viên có năng lực. Có các chương trình hỗ trợ và tìm kiếm các ứng viên là những sinh viên có năng lực và tâm huyết ngay từ khi còn trên ghế nhà trường.

Sàng lọc kỹ nguồn lao động đầu vào để đảm bảo tuyển dụng được những nhân viên thật sự có khả năng, tâm huyết với công việc, nhiệt tình và sáng tạo, có hướng gắn bó lâu dài với nghề nhân sự.

Bên cạnh đó, một trong những thách thức đặt ra đối với các quốc gia đang phát triển khi tiếp cận với kinh tế số chính là nguồn nhân lực có tay nghề cao. Theo số liệu trong Báo cáo về mức độ sẵn sàng cho nền sản xuất trong tương lai 2018 của WEF, Việt Nam xếp hạng thuộc nhóm cuối trong bảng thứ hạng về lao động có chuyên môn cao, thứ 81/100 thậm chí xếp hạng sau Thái Lan và Philippin trong nhóm các nước ASEAN. Và cũng trong báo cáo này, thứ hạng về chất lượng đào tạo nghề của Việt Nam chỉ ở thứ 80/100, so với trong nhóm các nước ASEAN thì chỉ đứng trước Campuchia (92/100).

Nguồn nhân lực thực sự vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của kinh tế số, một phần là do trong hệ thống nhà trường nhất là những trường đào tạo về kỹ thuật còn áp dụng những công nghệ rất cũ trong công tác giảng dạy. Khi cuộc CMCN 4.0 ra đời thì các doanh nghiệp sẽ đòi hỏi họ cũng phải thay đổi, phát triển để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Các trường đại học phải đào tạo ra nguồn nhân lực có các kỹ năng mới và trình độ giáo dục cao hơn so với những thập kỷ trước. Thực tế hiện nay, giáo dục đại học về tổng thể vẫn chưa đáp ứng nhu cầu của các nhà tuyển dụng.

Có thể nói kinh tế số với những công nghệ mới, làm thay đổi nền tảng sản xuất, sinh thêm nhiều ngành nghề mới, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới về năng lực nhân sự. Đây là một thách thức lớn đối với giáo dục đại học Việt Nam. Vì vậy, các trường đại học ở Việt Nam cần phải nhận thức được những thách thức này, từ đó, có chiến lược phù hợp cho việc phát triển khoa học, công nghệ, thay đổi phương thức đào tạo, đầu tư cơ sở vật chất để đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao trong thời kỳ kỹ thuật số.
3. Đề xuất một số giải pháp

Một là, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ hình thành và phát triển với mô hình khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong các trường đại học đào tạo về công nghệ, tạo hệ sinh thái cho các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Thúc đẩy quá trình hợp tác quốc tế trong nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ. Ngoài ra, cần tiếp tục đẩy mạnh quá trình hoạt động và phát triển của các khu công nghiệp, khu công nghệ cao; ưu tiên tài trợ cho các tổ chức, cá nhân có công trình khoa học - công nghệ xuất sắc.

Hai là, tạo mối liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp. Để có lực lượng lao động lành nghề, ngay từ khi còn trên ghế nhà trường, sinh viên được vừa học, vừa làm trong môi trường thực tế. Tuy nhiên, hiện rất ít công ty có chiến lược nuôi dưỡng nguồn nhân lực ngay từ năm thứ 2, thứ 3 và có kế hoạch cho sinh viên vào làm linh hoạt. Ngược lại, các trường cũng chỉ tập trung vào công tác đào tạo chứ chưa quan tâm nhiều đến việc hợp tác với doanh nghiệp.



Giữa các doanh nghiệp với các trường đại học cũng như các cơ sở đào tạo thiếu cơ chế phối hợp chặt chẽ, doanh nghiệp phải là nơi đặt hàng cho các trường đại học về nhu cầu nhân lực, tuy nhiên, vấn đề này ở Việt Nam chưa được thực hiện tốt, dẫn đến trường hợp nhân lực vừa thừa nhưng lại vừa thiếu. Do đó, cần tập trung gắn kết hoạt động đào tạo của nhà trường với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp thông qua các mô hình liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp, hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo tại các trường gắn rất chặt với doanh nghiệp. Ngoài ra, có thể đẩy mạnh việc hình thành các cơ sở đào tạo trong doanh nghiệp để chia sẻ các nguồn lực chung, từ đó hai bên cùng chủ động nắm bắt và đón đầu các nhu cầu của thị trường lao động.

Ba là, đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đối với dạy nghề theo nhu cầu của thị trường và yêu cầu cụ thể của người sử dụng lao động, gồm:

- Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chuẩn về kỹ năng tối thiểu cần có của các loại nghề nghiệp theo yêu cầu của người sử dụng lao động; trên cơ sở đó, khuyến khích và tạo điều kiện để các hội, hiệp hội nghề nghiệp tự xây dựng bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp áp dụng cho các thành viên theo hướng áp dụng bộ chuẩn nghề nghiệp ở mức trung bình trong khu vực; hướng dẫn các trường, trung tâm và tổ chức dạy nghề xây dựng các chương trình và cách thức đào tạo đáp ứng các yêu cầu nói trên.

- Thực hiện đấu thầu hoặc chỉ định thầu cung cấp dịch vụ đào tạo lao động trong các chương trình hỗ trợ

Giải pháp nhân lực

Muốn có những thay đổi, cải cách, bước tiến mới trong việc quản lý nguồn nhân lực hiện nay, trước hết bạn cần có cái nhìn khái quát về hiện trạng nguồn nhân lực chung, để từ đó doanh nghiệp của bạn mới đi sâu phân tích điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức của doanh nghiệp. Việc phân tích và đánh giá đúng thực lực nguồn nhân lực sẵn có và nguồn nhân lực tiềm ẩn giúp cho doanh nghiệp dễ dàng sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc. Dù trong thời đại nào đi chăng nữa , việc tận dụng tối đa nguồn lực sẵn có luôn đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của công ty.
Thiết kế website Tiến hành up website lên server demo để chạy thử, Việt SEO luôn mang đến cho khách hàng những trang web ấn tượng và chất lượng nhất. Dưới đây là những lý do bạn nên chọn Việt SEO cho dự án thiết
Pallet Lợi ích khi sử dụng Pallet, Pallet dùng để chất hàng hoá, sản phẩm lên và di chuyển từ khu vực này sang khu vực khác. Chúng giúp sản phẩm được giữ cố định không bị xê

- Nội dung thực hiện của khái toán và dự toán cũng khác nhau:

+ Khái toán: gồm chi phí xây dựng, thiết bị, đầu tư xây dựng, chi phí quản lý, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

+ Dự toán: gồm chi phí xây dựng, thiết bị, tư vấn, quản lý và dự phòng.

- Dữ liệu xác định:

+ Từ khối lượng thiết kế, vốn đầu tư, chỉ số giá và dữ liệu công trình tổng hợp sẽ xác định khái toán, vì vậy độ chính xác không bằng dự toán.

+ Từ khối lượng thiết kế, chỉ số giá và dữ liệu công trình chi tiết sẽ xác định dự toán.

Tùy vào việc mức độ chấp nhận sai số để chủ sở hữu hoặc nhà đầu tư chọn phương pháp tính khái toán nhanh đơn giản hơn nhưng độ sai số cao hơn tính dự toán chi tiết.

Dự toán công trình vốn đầu tư công (vốn nhà nước)    Dự toán công trình vốn đầu tư tư nhân
Phải tuân thủ tuyệt đối các văn bản quy định, hướng dẫn của Nhà nước.    Tham khảo các văn bản quy định, hướng dẫn của Nhà nước, không nhất thiết phải tuân thủ tuyệt đối. Có đường mòn dù sao cũng tốt hơn phải tìm đường, dọn đường, phát quang bụi rậm.
Phải theo quy trình, lập, thẩm tra / thẩm định theo đúng quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng của Nhà nước.    Không nhất thiết phải theo đúng quy định trong các văn bản về quản lý chi phí của Nhà nước.

Các định mức tỷ lệ (trực tiếp phí, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước, chi phí xây dựng nhà tạm…) theo quy định (Thông tư 09/2019/TT-BXD).    Các định mức tỷ lệ chả cần theo quy định nào, có thể cắt bỏ, tăng – giảm tùy ý (nếu có thể). Thực tế thì vẫn theo Thông tư 09/2019/TT-BXD, vì tự đi xác định các định mức tỷ lệ C, GT, TL.. thì không biết mức nào cho vừa.
Cơ cấu chi phí theo 6 nội dung dự toán: Chi phí xây dựng (Gxd), chi thiết bị (Gtb, chi phí quản lý dự án (Gqlda, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng (Gtv), chi phí khác (Gk), chi phí dự phòng (Gdp).    Cơ cấu chi phí có thể khác: Có thể không cần chi phí quản lý dự án (tự làm), không cần chi phí tư vấn (tự làm, nhờ người quen làm giúp)…



Theo các phương pháp xác định hướng dẫn trong Thông tư 09/2019/TT-BXD. Nếu bạn không theo phương pháp đó, khi thẩm tra / thẩm định dự toán, phê duyệt sẽ gặp khó khăn, ách tắc.    Không cần theo phương pháp đó cũng được. Tự chọn phương pháp áp dụng. Học phương pháp của Tây cho tiên tiến cũng OK.
Người quyết định đầu tư, Chủ đầu tư, Tư vấn thiết kế lập dự toán, Tư vấn thẩm tra… có các vai trò (thẩm quyền, vai trò, trách nhiệm được phân cấp, phân giao) trong quá trình lập, thẩm tra, phê duyệt, điều chỉnh. Phải có lộ trình.    Chủ đầu tư tự quyết hết, tự chịu trách nhiệm hết. Muốn giao cho ai thực hiện thì giao. Quyết nhanh, thực hiện nhanh.

Xảy ra lỗi, lập đi lập lại, tốn kém chi phí thì Nhà nước gánh chịu…    Xảy ra lỗi, lôi tiền túi của mình ra – rất xót, rất tiếc nên rất cẩn thận.
Chi phí xây lắp công trình từ ngân sách Nhà nước. Chi phí quản lý dự án, tư vấn tính theo tỷ lệ % trên chi phí xây dựng và lắp đặt. Do đó chi phí xây lắp có tính lớn hơn thì chỉ Nhà nước chi nhiều hơn, còn các thành phần tham gia vào đều có lợi. Vì thế, nhiều trường hợp không phải cố gắng kiềm chế để giảm chi phí.    Chi phí xây lắp từ tiền túi của mình. Nên trong mọi trường hợp cứ tăng lên là thiệt hại, ảnh hưởng. Vì thế, tự giác kiểm soát, kiềm chế tối đa sự tăng chi phí. Trong trường hợp phát hiện yếu tố có lợi (đẩy nhanh thi công, sớm đưa công trình vào khai thác, chiếm lĩnh thị trường…) tự quyết cho việc chi tăng.

Số liệu đầu vào, phương pháp và công thức xác định ra giá trị dự toán xây dựng công trình do Nhà nước kiểm soát. Mục tiêu là để chống Thất thoát, lãng phí, tham nhũng vốn đầu tư công. Người lập dự toán phải thông hiểu các quy định, hướng dẫn của Nhà nước để lấy số liệu cho phù hợp.    Người lập dự toán công trình làm sao thuyết phục Chủ đầu tư OK là được. Giúp Chủ đầu tư hoàn thành công việc, còn vốn của họ tự quản, Nhà nước không can thiệp. Bạn lập dự toán phải am hiểu thị trường, thực tế và nắm các quy định, hướng dẫn của Nhà nước để lấy số liệu cho phù hợp.
    
Bạn xem thêm Nghị định số 68/2019/NĐ-CP của Chính phủ về Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình và Thông tư số 09/2019/TT-BXD của Bộ Xây dựng hướng dẫn xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng.



Thông tư số 09/2019/TT-BXD của Bộ Xây dựng căn cứ định số 68/2019/NĐ-CP của Chính phủ để hướng dẫn lập và quản lý chi phí trong đó có hướng dẫn các phương pháp lập dự toán. Thông tư số 10/2019/TT-BXD ban hành định mức của Bộ Xây dựng hiện chủ trương bắt buộc áp dụng cho nguồn vốn Đầu tư công, có thể áp dụng, vận dụng, tạm tính cho công trình vốn tư nhân. Chủ đầu tư các nguồn vốn khác được tự quyền quyết định và tự chịu trách nhiệm trong việc Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình.

Dự toán vốn đầu tư tư nhân có quyền áp dụng hoặc không áp dụng cơ cấu dự toán, các khoản chi phí theo định mức tỷ lệ, phương pháp, định mức, đơn giá nhà nước.

Tuy nhiên, đa phần hiện nay, các Chủ đầu tư vẫn áp dụng các chế độ chính sách, đơn giá Nhà nước và điều chỉnh, vận dụng linh hoạt 1 số trường hợp riêng (phê duyệt riêng) nếu thấy cần thiết. Lý do: Nhà nước đã mất nhiều thời gian, công sức đưa ra hệ thống các hướng dẫn, phương pháp, công thức, số liệu… được đúc kết, chỉnh sửa qua nhiều năm, việc đi nghĩ ra phương pháp mới, cách làm mới (giống như mở lối đi mới) có thể khó khăn, gây chậm trễ, làm ảnh hưởng đến khai thác dự án sớm, điều này các dự án vốn tư nhân thường rất khắt khe.

Đi xin việc gì người ta cũng cần kinh nghiệm, phải thể hiện được kinh nghiệm. Kinh nghiệm và tầm nhìn sẽ rất hạn hẹp nếu chỉ luanh quanh công việc, dự án bạn làm trực tiếp. Cần mở rộng, tích lũy kinh nghiệm – kiến thức từ các bài đọc như trên và từ nhiều nguồn khác.

* Theo quy định của Luật Xây dựng sửa đổi Luật Xây dựng số 50 thì cụm từ “vốn ngân sách nhà nước” thay bằng cụm từ “vốn đầu tư công”, “vốn nhà nước” thay bằng “vốn đầu tư công”, “vốn ngoài ngân sách” thay bằng “vốn nhà nước ngoài đầu tư công”.

Bài viết sau đây sẽ hướng dẫn cách lập dự toán bằng phương pháp lập đơn giá xây dựng công trình, không cần phải sử dụng đơn giá xây dựng công trình do địa phương ban hành hoặc công bố để lập dự toán như cách truyền thống, chỉ cần sử dụng hệ thống định mức dự toán xây dựng của công trình, giá vật liệu, nhân công và máy theo công bố của địa phương. Phân tích định mức dự toán xây dựng công trình, áp giá vật liệu, áp giá nhân công (Thông tư số 15/2019/TT-BXD) và giá máy thi công (Thông tư số 11/2019/TT-BXD) để xác định đơn giá xây dựng công trình. Đây là phương pháp lập dự toán duy nhất đúng và phù hợp với các địa phương chưa ban hành đơn giá xây dựng công trình (được xây dựng căn cứ định mức ban hành kèm theo Thông tư số 10/2019/TT-BXD).

Phương pháp lập đơn giá xây dựng công trình trên cơ sở hệ thống định mức dự toán xây dựng của công trình, giá vật liệu, nhân công và máy thi công theo công bố của địa phương.

Cơ sở xác định đơn giá xây dựng chi tiết của công trình:
1. Danh mục các công tác xây dựng của công trình cần lập đơn giá;
2. Định mức dự toán xây dựng theo danh mục cần lập đơn giá;
3.

Hình Ảnh