Đối với, những người lao động cần nâng cao trình độ tay nghề theo yêu cầu về quy trình làm việc của Chủ sử | Giải pháp nhân lực

* Website đang xây dựng, CHƯA CHÍNH THỨC sử dụng. Tin tức, bài viết, sản phẩm chỉ đăng làm mẫu!
* CẦN MUA TÊN MIỀN "TIMVIECTHEOGIO.COM", vui lòng liên hệ 0908 744 256 - 0917 212 969 (Mr. Thanh)

* Giải pháp nhân lực: 0981.293.005 - 0969.786.635

Lao động: Đến 2015, lực lượng lao động Việt Nam có 53.7 triệu người trong đó 52.8 triệu người có việc làm và 0.9 triệu người thất nghiệp (tỷ lệ thất nghiệp là 1.84%); hàng năm trung bình có khoảng 1,5-1,6 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động. Mặc dù có sự dịch chuyển tích cực ở khu vực thành thị nhưng vẫn còn 70% lực lượng lao động tập trung ở khu vực nông thôn. Đây là một cơ cấu lao động không hợp lý, khi tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp là cao nhất trong khi đây là ngành có đóng góp thấp nhất vào GDP. Lực lượng lao động của Việt Nam tương đối trẻ, với 50% số người thuộc lực lượng lao động có độ tuổi từ 15-39 tuổi.

Đào tạo: Căn cứ trên cơ cấu tuổi của lực lượng lao động, có thể thấy sự khác nhau đáng kể về phân bố lực lượng lao động theo tuổi giữa khu vực thành thị và nông thôn. Tỷ lệ phần trăm lực lượng lao động nhóm tuổi trẻ (từ 15-24) và già (trên 55 tuổi) ở khu vực thành thị thấp hơn khu vực nông thôn. Năm 2015, cả nước có 0.35 triệu học sinh các trường trung cấp chuyên nghiệp (giảm 72 nghìn học sinh so với năm 2014) và 2.36 triệu sinh viên đại học, cao đẳng (tăng 38 nghìn sinh viên so với năm 2014). Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trong toàn bộ lực lượng lao động từ 15 trở lên là 17%, trong đó ở thành thị là 33%, gấp 3 lần tỷ lệ này ở khu vực nông thôn là 11%, phân theo giới tính tỷ lệ này là 20% đối với nam và 15% đối với nữ; tỷ lệ nhân lực được đào tạo trình độ cao (từ đại học trở lên) trong tổng số lao động qua đào tạo ngày càng tăng.
Sử dụng nhân lực:  Đến 2015, cả nước có 1,140.2 nghìn người thiếu việc làm và 876.1 nghìn người thất nghiệp trong tổng lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên. Trong đó 86.3% người thiếu việc làm sinh sống ở khu vực nông thôn và 55% người thiếu việc làm là nam giới. 54.9% số người thất nghiệp sinh sống ở khu vực thành thị và 54.8% số người thất nghiệp là nam giới. Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị là 3.26%, cao hơn mức 1.2% ở khu vực nông thôn. Trong khi đó, tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực nông thôn lại cao hơn khu vực thành thị (2.77% so với 1.05%)
Năng suất lao động có xu hướng ngày càng tăng nhưng vẫn còn rất thấp so với các nước trong khu vực: Năng suất lao động năm 2005 là 21,4 triệu đồng/người, năm 2010 là 44,0 triệu đồng/người, năm 2012 là 63,1 triệu đồng/người, sơ bộ năm 2013 là 68,7 triệu đồng/người. Theo báo cáo của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), năm 2013, Việt nam xếp vào nhóm có năng suất lao động thấp nhất châu Á-Thái Bình Dương (cùng với Myanmar và Campuchia), thấp hơn Singapore 15 lần, Nhật Bản 11 lần, Hàn Quốc 10 lần, Malaysia 5 lần.



Một số hạn chế của nguồn nhân lực Việt Nam

Thứ nhất, thể chất của lực lượng lao động còn yếu: Về cơ bản, thể chất của người lao động Việt Nam đã được cải thiện, nhưng còn thấp so với các nước trong khu vực, thể hiện ở các khía cạnh tầm vóc, sức khoẻ, sức bền, khả năng chịu áp lực…

Thứ hai, trình độ của người lao động còn nhiều hạn chế, bất cập, do chất lượng đào tạo, cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực, sự phân bố theo vùng, miền, địa phương của nguồn nhân lực chưa phù hợp với  sự phát triển của nền kinh tế và nhu cầu của xã hội, gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước và xã hội.

Thứ ba, thiếu đội ngũ công nhân, kỹ thuật viên lành nghề  để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội phát triển các ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam.



Thứ tư, về cơ bản đội ngũ lao động Việt giỏi lý thuyết, nhưng kém về năng lực thực hành và ứng dụng công nghệ cao vào quá trình lao động, kém về ngoại ngữ và hạn chế trong việc thích nghi môi trường có áp lực cạnh tranh cao.

Thứ năm, khả năng làm việc theo nhóm, tính sáng tạo, chuyên nghiệp trong quá trình lao động còn nhiều hạn chế, khả năng giao tiếp, năng lực giải quyết xung đột trong quá trình lao động còn yếu kém.

 Thứ sáu, tinh thần trách nhiệm trong công việc, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công dân, văn hoá doanh nghiệp, ý thức tuân thủ kỷ luật lao động của một bộ phận đáng kể người lao động chưa cao.

Nguyên nhân của những hạn chế

Một là, quản lý Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực còn nhiều vấn đề bất cập so với yêu cầu. Chưa có một chiến lược phát triển nguồn nhân lực toàn diện và dài hạn, mang tầm quốc gia để định hướng các cơ quan, đoàn thể cùng phố hợp hành động.

 Hai là, hệ thống giáo dục từ cấp phổ thông, đến đào tạo nghề, đại học, sau đại học là lực lượng nòng cốt trong quá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực còn bộc lộ nhiều hạn chế, dù đã trải qua rất nhiều cải cách, đổi mới.

 Ba là, quá trình hợp tác và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực chưa theo kịp quá trình hội nhập kinh tế, văn hoá, xã hội ngày càng sâu rộng của Việt nam. Hệ thống giáo dục chưa bắt kịp với mô hình hệ thống giáo dục và đào tạo nhân lực phổ biến của các nước trong khu vực và thế giới. Đào tạo ngoại ngữ của Việt Nam còn nặng tính hình thức, lý thuyết nhưng lại yếu kém trong thực hành.

 Bốn là, nguồn lực quốc gia và khả năng đầu tư cho phát triển nhân lực của phần lớn các gia đình còn hạn chế, chưa đáp ứng điều kiện tối thiểu để bảo đảm chất lượng các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao.

Yêu cầu đối với nguồn nhân lực Việt Nam trong bối cảnh hội nhập



Nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, từ bối cảnh trong nước, quá trình phát triển nguồn nhân lực Việt nam đang đứng trước những yêu cầu cấp sau: (i) Bảo đảm nguồn nhân lực là một trong ba khâu đột phá cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã được đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020: chú trọng phát triển theo chiều sâu, tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế; tăng năng suất lao động, tiết kiệm trong sử dụng mọi nguồn lực; (ii) Nguồn nhân lực phải có năng lực thích ứng với tình trạng nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm và sự sụt giảm các nguồn đầu tư tài chính; phải được đào tạo đầy đủ

Giải pháp nhân lực

Muốn có những thay đổi, cải cách, bước tiến mới trong việc quản lý nguồn nhân lực hiện nay, trước hết bạn cần có cái nhìn khái quát về hiện trạng nguồn nhân lực chung, để từ đó doanh nghiệp của bạn mới đi sâu phân tích điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức của doanh nghiệp. Việc phân tích và đánh giá đúng thực lực nguồn nhân lực sẵn có và nguồn nhân lực tiềm ẩn giúp cho doanh nghiệp dễ dàng sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc. Dù trong thời đại nào đi chăng nữa , việc tận dụng tối đa nguồn lực sẵn có luôn đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của công ty.
Thiết kế website Tiến hành up website lên server demo để chạy thử, Việt SEO luôn mang đến cho khách hàng những trang web ấn tượng và chất lượng nhất. Dưới đây là những lý do bạn nên chọn Việt SEO cho dự án thiết
Pallet Lợi ích khi sử dụng Pallet, Pallet dùng để chất hàng hoá, sản phẩm lên và di chuyển từ khu vực này sang khu vực khác. Chúng giúp sản phẩm được giữ cố định không bị xê

Hiện nay dịch vụ cung ứng lao động thời vụ đã được nhiều công ty trong các khu công nghiệp, khu chế xuất trên cả nước áp dụng theo đó, dịch vụ cung ứng lao động thời vụ là loại hình kinh doanh có điều kiện

Dịch vụ lao động là dịch vụ cung ứng lao động thời vụ cho các công ty một cách nhanh chóng, giúp công ty doanh nghiệp nhanh chóng tìm được nhân lực giải quyết công viêc một cách kịp thời. Sẽ có những thời điểm các công ty, doanh nghiệp bị quá tải công việc như những dịp cuối năm, khi nguồn hàng tăng lên đột biến, khi đó doanh nghiệp cần một lượng lớn lao động, khi đó họ rất cần đến các công ty dịch vụ lao động cung ứng lao động hỗ trợ.

Sự phát triển mạnh mẽ của ngành logistics toàn cầu cho thấy rằng nguồn nhân lực có tay nghề và kỹ năng cao là nhân tố vô cùng quan trọng cho việc hoạt động logistics một cách hiệu quả. Đối với BR-VT thì việc tìm ta giải pháp để phát triển nguồn nhân lực logistics lại càng cần thiết, cùng với việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các chính sách thúc đẩy cho sự phát triển ngành logistics, thì nhân lực tay nghề cao sẽ rút ngắn thời gian đưa BR-VT trở thành đô thị cảng biển của cả nước và khu vực.

NGUỒN NHÂN LỰC LOGISTICS BR-VT ĐANG Ở MỨC ĐỘ NÀO?

Thiếu - yếu – trầm trọng chưa? Đây là câu hỏi mà lãnh đạo tỉnh BR-VT đang rất trăn trở!
Hiện nay, có khoảng 1.000 DN trong nước có đăng ký kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực có liên quan đến dịch vụ logistics, nhưng chủ yếu chỉ đóng vai trò là nhà cung cấp vệ tinh trong chuỗi giá trị dịch vụ logistics. Tại BR-VT, tăng trưởng dân số, lực lượng lao động trẻ và lực lượng lao động nhập cư là nguồn nhân lực tiềm năng cho phát triển các ngành kinh tế trong tỉnh. Mỗi năm tỉnh có khoảng 30.000 lao động được đào tạo, trong đó 16 cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh đào tạo mỗi khoảng hơn 5.000 công nhân kỹ thuật các loại. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh còn thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 58%.



Để đạt được mục tiêu xây dựng BR-VT trở thành đô thị cảng trung tâm của cả nước, kinh tế cảng sẽ là mũi nhọn đủ sức và đủ tầm tạo đột phá thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ cho BR-VT nói riêng và toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nói chung trong giai đoạn tới thì BR-VT sẽ phải làm gì là một câu hỏi lớn đặt ra cho các nhà lãnh đạo và quản lý của tỉnh. Với sự phát triển của ngành logistics hiện tại và tương lai, lực lượng lao động BR-VT không thể đáp ứng được nhu cầu về chất và lượng so với sự phát triển của dịch vụ cảng biển tại địa phương. Hơn nữa, lĩnh vực logistics còn khá mới, bản thân các DN dịch vụ logistics VN và các cơ quan quản lý chưa được trang bị đầy đủ hiểu biết, kiến thức về ngành. Vì vậy, việc đào tạo nguồn nhân lực cho ngành logistics tại BR-VT là rất quan trọng.

GIẢI PHÁP ĐÀO TẠO NHÂN LỰC LOGISTICS TẠI BR-VT

Tuy nhiên, về lâu dài thì việc thành lập một Viện/Trường đào tạo nhân lực cho cảng biển và logistics là tất yếu và để chất lượng đào tạo được đảm bảo thì Viện/Trường đào tạo nhân lực cần có vị trí sát gần với hệ thống cảng biển và trung tâm logistics nhằm đảm bảo học tập đi đôi với thực hành. Cùng quan điểm, theo các chuyên gia tham dự Hội nghị, chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ngành logistics cần được xây dựng theo từng lộ trình với các chương trình ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, việc thực hiện các chương trình đào tạo này sẽ cung cấp nguồn nhân lực dồi dào và có chất lượng cao cho việc phát triển logistics của BR-VT.

Về chương trình ngắn hạn:

BR-VT và các DN cung cấp dịch vụ logistics của tỉnh cần có chương trình phối hợp với Hiệp hội Giao nhận Kho vận Việt Nam (VIFFAS), Hiệp hội cảng biển VN (VPA)... để hỗ trợ trong công tác đào tạo nghiệp vụ và cung cấp thông tin liên quan. BR-VT nên tổ chức các lớp đào tạo cho đội ngũ quản lý, các chuyên viên của các Sở ban ngành tỉnh để có kiến thức cơ bản về quản trị logistics và thương mại quốc tế,… bằng cách mời các chuyên gia từ Viện nghiên cứu và phát triển logistics, giảng viên các trường Đại học có các môn chuyên về logistics giảng dạy. Đồng thời, tổ chức các lớp đào tạo ngắn hạn cho nhân viên các công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ logistics để có các kiến thức và nhận thức cơ bản về tổ chức và quản lý khai thác cảng biển. Ngoài ra, nên tận dụng cơ sở vật chất các trường, cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh để thường xuyên tổ chức các khóa học cơ bản và nâng cao về quản lý, tổ chức khai thác, kinh doanh trong lĩnh vực logistics cho các đối tượng khác nhau hoạt động trong vực logistics.



Chương trình trung hạn:

BR-VT nên hợp tác với các Viện/Trường nghiên cứu và phát triển logistics của VN và các nước như Hà Lan, Nhật Bản, Úc nhằm xây dựng các chương trình đào tạo nhân lực ngành logistics; Hợp tác với các nhà khai thác cảng trên địa bàn tỉnh và các hãng tàu hàng đầu trên thế giới tổ chức làm cầu nối cho các doanh nghiệp logistics hoạt động trên địa bàn tỉnh đưa nhân viên học các chương trình ngắn hạn tại các Trường và Trung tâm Đào tạo nguồn nhân lực Logistics trên thế giới. Song song, cần xây dựng một chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực logistics cho BR-VT trên cơ sở lựa chọn những sinh viên ưu tú của tỉnh cử đi học tại nước ngoài về các chuyên ngành logistics.

Chương trình dài hạn:

Về chương trình dài hạn, cần thiết phải xây dựng Trung tâm Đào tạo nguồn nhân lực cho ngành logistics với mục tiêu là xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu phát triển ngành dịch vụ logistics của BR-VT. Trung tâm đào tạo này sẽ là nơi đào tạo tất cả các lĩnh vực chuyên ngành logistics, cụ thể: Chương trình đào tạo các chuyên viên logistics; đào tạo cập nhật – bổ sung các kiến thức cơ bản về ngoại thương, vận chuyển hàng hóa đa phương thức, bảo hiểm hàng hóa, giao nhận và thủ tục hải quan, các quy định pháp lý về dịch vụ logistics,…. Một điểm cần lưu ý là Trung tâm Đào tạo nguồn nhân lực nếu được xây dựng trong Trung tâm logistics tập trung sẽ

Hình Ảnh